Từ di sản văn hóa ở Khánh Hòa, vườn sầu riêng tại Đắk Lắk đến các mô hình du lịch nông nghiệp ở Lâm Đồng, tài nguyên bản địa đang mở ra hướng phát triển sản phẩm mới cho miền Trung - Tây Nguyên. Bài toán đặt ra không chỉ là thu hút khách, mà còn gia tăng chi tiêu, kéo dài thời gian lưu trú và giữ lại giá trị kinh tế tại địa phương.
Khai thác chiều sâu tài nguyên bản địa

Miền Trung - Tây Nguyên khai thác giá trị văn hóa, nông nghiệp và bản sắc địa phương để đa dạng sản phẩm, nâng cao sức hút và gia tăng giá trị du lịch.
Theo mục tiêu phát triển du lịch đến năm 2030, Việt Nam hướng tới đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa và đưa tỷ trọng đóng góp trực tiếp của du lịch lên 10-12% GDP. Trong 9 tháng năm 2026, cả nước đón khoảng 17,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, tăng lượng khách chưa đồng nghĩa với gia tăng tương ứng giá trị kinh tế. Thời gian lưu trú, mức chi tiêu và khả năng lan tỏa lợi ích đến cộng đồng mới là những yếu tố cần được chú trọng. Điều này đòi hỏi các điểm đến khai thác sâu hơn tài nguyên sẵn có, phát triển sản phẩm có bản sắc và tăng cường liên kết giữa các địa phương.

Chương trình khảo sát “Một hành trình - Hai di sản” được tổ chức tại phía Nam tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: Hội Lữ hành Khánh Hòa
Tại Khánh Hòa, bên cạnh lợi thế biển, đảo và nghỉ dưỡng, di sản Chăm, văn hóa Raglai cùng các làng nghề truyền thống đang mở rộng không gian trải nghiệm.
Tháng 10/2026, chương trình khảo sát “Một hành trình - Hai di sản” với sự tham gia của gần 50 doanh nghiệp lữ hành đã giới thiệu các sản phẩm văn hóa, sinh thái đã được tổ chức tại phía Nam tỉnh Khánh Hòa. Từ đây, hành trình kết nối di sản Chăm, làng gốm Bàu Trúc, làng dệt Mỹ Nghiệp với không gian văn hóa Raglai và các điểm đến sinh thái được định hình, mở rộng trải nghiệm vượt ra ngoài thế mạnh biển, đảo và nghỉ dưỡng.
Di sản Chăm, văn hóa Raglai cùng các làng nghề truyền thống đang mở rộng không gian trải nghiệm cho du khách. Ảnh: An Du
Việc kết nối những điểm đến vốn được khai thác riêng lẻ mở ra cơ hội hình thành hành trình có chiều sâu hơn, tạo thêm nguồn thu cho nghệ nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp địa phương. Đây cũng chính là cách mà Khánh Hòa tạo thêm lý do để du khách ở lại lâu hơn và khám phá vùng đất vượt ra ngoài những bãi biển nổi tiếng.
Đưa nông sản vào hành trình du lịch

Ở Đắk Lắk, sầu riêng và cà phê không chỉ là nông sản chủ lực mà còn mở ra cơ hội phát triển du lịch trải nghiệm. Ảnh: Trần Quới
Ở Đắk Lắk, sầu riêng và cà phê không chỉ là nông sản chủ lực mà còn mở ra cơ hội phát triển du lịch trải nghiệm. Tham quan vườn cây, tìm hiểu quy trình canh tác, thưởng thức nông sản và mua sản phẩm tại vùng nguyên liệu giúp du khách tiếp cận đời sống địa phương, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho người sản xuất.

Đưa nông sản vào hành trình du lịch. Ảnh: Trần Quới
Định hướng này được kỳ vọng mở rộng sức hút qua Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 10 năm 2027. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, đề án tổ chức lễ hội với chủ đề "Buôn Ma Thuột - Điểm đến của cà phê thế giới" đã được hoàn thiện, dự kiến gồm 30 hoạt động tại phường Buôn Ma Thuột và các địa phương ở phía Tây, phía Đông tỉnh. Đắk Lắk đặt mục tiêu đón 1,3 triệu lượt khách trong dịp lễ hội.
Bên cạnh quảng bá thương hiệu cà phê, việc kết nối hoạt động lễ hội với vùng nguyên liệu, trải nghiệm chế biến và văn hóa bản địa có thể giúp kéo dài hành trình khám phá, gia tăng chi tiêu tại địa phương. Tuy nhiên, để duy trì sức hút sau sự kiện, du lịch nông nghiệp cần có sản phẩm khai thác thường xuyên, lịch trình phù hợp mùa vụ và chất lượng dịch vụ ổn định.

Tại Lâm Đồng, du lịch nông nghiệp được phát triển với nhiều hình thức, từ tham quan vườn cây, trang trại, vùng trồng rau, hoa đến khám phá quy trình sản xuất và chế biến nông sản. Ảnh: Lê Hoa
Tại Lâm Đồng, du lịch nông nghiệp được phát triển với nhiều hình thức, từ tham quan vườn cây, trang trại, vùng trồng rau, hoa đến khám phá quy trình sản xuất và chế biến nông sản. Một số cơ sở còn tổ chức trải nghiệm thu hái, chế biến và thưởng thức sản phẩm gắn với văn hóa vùng đất.
Cách tiếp cận này biến hoạt động sản xuất thành một phần của trải nghiệm du lịch, tạo cơ hội gia tăng doanh thu từ dịch vụ tham quan, ăn uống và bán nông sản. Tuy nhiên, hiệu quả cần được đánh giá bằng lượng khách sử dụng dịch vụ, mức chi tiêu và lợi ích thực tế của người sản xuất, thay vì chỉ dựa vào cảnh quan hay sức hút ban đầu.
Đo tăng trưởng bằng giá trị thực chất
Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường và duy trì sinh kế của cộng đồng. Ảnh: Trần Quới
Khánh Hòa, Đắk Lắk và Lâm Đồng đang tiếp cận bài toán gia tăng giá trị từ những lợi thế khác nhau: di sản và văn hóa cộng đồng, nông sản đặc trưng, hay trải nghiệm tại vùng nguyên liệu. Điểm chung là đưa tài nguyên vào những sản phẩm có khả năng tạo doanh thu và mở rộng sự tham gia của người dân.
Tuy nhiên, liên kết điểm đến hay bổ sung trải nghiệm chưa đủ để bảo đảm hiệu quả. Sản phẩm cần có chất lượng ổn định, kết nối giao thông thuận tiện, lịch trình hợp lý và khả năng tiếp cận thị trường. Quan trọng hơn, cần theo dõi thời gian lưu trú, mức chi tiêu, doanh thu tại từng điểm đến và lợi ích thực tế của cộng đồng. Đồng thời, phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường và duy trì sinh kế của cộng đồng.

Khai thác tài nguyên bản địa để phát triển du lịch.
Mục tiêu 45-50 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2030 là một đích đến lớn, nhưng số lượng không phải thước đo duy nhất. Tài nguyên bản địa chỉ thực sự trở thành lợi thế khi được chuyển hóa thành sản phẩm có sức cạnh tranh và tạo ra giá trị kinh tế tại chỗ. Với miền Trung - Tây Nguyên, hướng đi không nằm ở việc khai thác nhiều hơn những gì sẵn có, mà ở cách kết nối di sản, nông nghiệp và văn hóa thành những trải nghiệm đủ khác biệt để giữ chân du khách. Khi người dân cùng tham gia và hưởng lợi, du lịch mới có thể tăng trưởng bền vững từ chính bản sắc của mỗi vùng đất.